Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Bùng nổ học hộ, thi hộ và… ốm hộ

chẳng phải là hiện tượng quá mới, nhưng “học hộ, thi hộ” đã phát triển thành công khai và rộng rãi trong giới sinh viên, kéo theo các dịch vụ “ăn theo” như làm fake thẻ sinh viên, giấy khám bệnh… để phục vụ sinh viên trốn học.

Theo nội quy những trường đại học, ví như phát hiện gian lận trong thi cử, sinh viên sẽ bị đình chỉ học. Thực tế, biện pháp xử lý vẫn quá hời hợt và ko thể quản lý được.
Học, thi và ốm “hộ”
mọi các sinh viên (SV) lên mạng tìm kiếm người để học hộ, thi hộ (HHTH) đều viện ra lý do, nào là môn đó khó “nuốt”, đi khiến thêm, ko có thời gian học, nhất là với những SV hệ tại chức thì việc thuê HHTH là hơi đa dạng. Điển hình như giả dụ D.M – sinh viên hệ tại chức, chuyên ngành kế toán ĐH Kinh tế TPHCM – thuê người HHTH cả 2 môn: Kế toán tài chính, kế toán quản trị.
D.M chia sẻ: Công việc tại doanh nghiệp vào ban ngày quá bận, tối về mệt, lại cần lo cho gia đình nên không có thời gian và tâm trí cho việc học. Muốn công việc tiến xa, doanh nghiệp lại bắt buộc cần có chiếc bằng ĐH chuyên ngành kế toán, nên D.M chọn tới dịch vụ này”. Việc HHTH hơi nhiều ở hệ tại chức. tầm giá thuê học hộ hơi “bèo”, chỉ 50.000 đồng/buổi, vì người học hộ chẳng phải chép bài, chỉ phải có mặt để điểm danh. Thi hộ giữa kỳ và cuối kỳ giá là 200.000 đồng.
Chỉ bắt buộc gõ cụm từ “học hộ, thi hộ” trên Google, người truy cập dễ dàng nhận thấy hơn 70 triệu kết quả tìm kiếm, trong ấy có ko ít chiếc quảng bá rầm rộ về “dịch vụ HHTH chuyên nghiệp” trên các trang web raovat…, rongbay…, kenhsinhvien… và cả mạng xã hội Facebook, sở hữu ngồn ngộn thông tin giới thiệu công khai và hoành tráng, công khai cả số điện thoại. Người HHTH giới thiệu hơi chi tiết và sở trường của mình để khách hàng lựa chọn. toàn bộ người HHTH là SV, trong giới SV chuyên nhờ HHTH đều không lạ lẫm sở hữu các “chuyên gia” đi thi. Thậm chí với hẳn cả trang web “luanvanviet.net” chuyên viết luận văn thuê. Giá giá mỗi bài tiểu luận từ 500 đến một triệu đồng tùy theo số trang và độ công phu. Còn người nhờ HHTH cũng công khai nhờ ngày thi, môn thi. Hai bên thỏa thuận giá cả trên cơ sở kết quả điểm môn thi.
Bùng nổ học hộ, thi hộ và… ốm hộ
Theo những SV, học hộ và thi giữa kỳ thì ko phải lo bị kiểm tra thẻ SV. Thi cuối kỳ mới buộc phải thẻ. Thẻ SV của phổ biến trường là in thẻ phải khiến cho fake siêu dễ. các SV truyền nhau kinh nghiệm: khi đi thi, nếu sở hữu thẻ SV kém chất lượng thì coi như trót lọt. Đôi lúc chỉ nên làm mờ hình trên thẻ là được.
Chẳng giám thị nào không cho SV vào phòng thi vì lý do ảnh bị mờ”. Nắm bắt được nhu cầu này của SV, hàng loạt những trang web đăng công khai thông tin nhận làm thẻ nhái, uy tín không bị phát hiện.Thậm chí, còn mang cả những dịch vụ khiến cho nhái giấy khám bệnh, giấy nghỉ ốm cho những SV bị nghỉ học quá phổ biến, vượt quá số ngày cho phép.
Bùng nổ học hộ, thi hộ và... ốm hộquảng bá học hộ, thi hộ trên mạng.
Quản lý theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”
khi kiểm tra chứng chỉ ngoại ngữ do SV nộp để xét phải chăng nghiệp, Phòng Đào tạo Trường ĐH Nông-Lâm TPHCM phát hiện 10 ví như thi hộ và nghi ngờ 1 trường hợp sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ fake. Theo lãnh đạo trường, hiện tượng học và thi hộ thường xảy ra có những SV chuẩn bị tốt nghiệp, thường có thi đầu ra môn ngoại ngữ.
Hầu như năm nào trường cũng “tóm” được vài ba giả dụ thi hộ. ĐH Luật TPHCM mới đây cũng phát hiện ra 3 ví như SV năm cuối tiêu dùng phiếu điểm TOEIC kém chất lượng để xét tốt nghiệp. Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM cho biết, trong 2 năm học gần đây, trường phát hiện, xử lý 4 giả dụ SV thi hộ.
Quy chế đào tạo ĐH, CĐ hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ GDĐT ban hành ngày 15.8.2007, tại khoản 2, điều 29 quy định rõ: “Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập 1 năm đối mang nếu vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần đồ vật hai”.
Thế nhưng trong thực tế, mỗi trường lại áp dụng 1 kiểu và nhiều nơi vẫn xử lý theo hình thức “giơ cao đánh khẽ”. Tại ĐH dân lập Văn Lang, SV lúc bị phát hiện có hành vi thi hộ sẽ bị đình chỉ học tập một năm, tuy nhiên chẳng phải đình chỉ ngay sau lúc nhận quyết định kỷ luật mà áp dụng khi đã hoàn thành tất cả chương trình học. nhiều cơ sở giáo dục ngày nay chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo, đề cập nhở đối mang SV lần đầu vi phạm.
Trong giả dụ những người này tái phạm, tổ giáo vụ khoa mới chuyển hồ sơ xuống phòng đào tạo để hội đồng kỷ luật nhà trường xem xét và đưa ra các hình thức kỷ luật cao hơn.
Dự thảo nghị định về quản lý giáo dục do Bộ GDĐT vừa công bố quy định, mức xử phạt hành chính đối sở hữu hành vi thi hộ, chuyển tài liệu, thông tin, đồ tiêu dùng trái phép vào phòng thi hoặc làm bài, trợ giúp thí sinh làm cho bài phạt tiền từ 5-10 triệu đồng. Hiệu trưởng một trường ĐH bên cạnh công lập cho biết, nhà trường chỉ đóng vai trò giáo dục, truyền thụ tri thức, vấn đề xử phạt, thu tiền vi phạm không thuộc thẩm quyền và trách nhiệm cho phép của nhà trường.
ngoại trừ ra, mức thu tiền phạt 5-10 triệu đồng vẫn bị cho là quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe đối sở hữu người vi phạm, nhiều ý kiến cho rằng, đối sở hữu sinh viên, kỷ luật bằng quy chế với ý nghĩa hơn là bằng tiền.
Dịch vụ kế toán giá rẻ

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Nữ kế toán phát điên… vì công việc

Sinh ra trong một gia đình cơ bản, bố mẹ anh chị em và cả bản thân của cô đều được xếp vào thành đạt. Nhưng tới ngưỡng cửa của công việc quá sức, N. đã có biểu hiện loạn thần, thường đập phá đồ đạc.

Yêu công việc hơn lấy chồng
Nguyễn Thị N. nhập viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia vì chứng loạn thần. Cô thường xuyên đập phá đồ đạc khiến cho bố mẹ luôn trong trạng thái bất an. Theo người nhà của cô, N. sinh ra ở thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa. những chị em trong nhà của N. đều với gia đình và sống ở rộng rãi nơi Hà Nội, TP.HCM. Còn N. ở lại Thanh Hóa làm việc để được sắp bố mẹ.
30 tuổi nhưng N. hăng say công việc hơn là chuyện chồng con. Mẹ cô đề cập, rộng rãi bạn trai tới ngỏ lời yêu N. đều từ chối rồi vùi đầu vào công việc. Cô khiến kế toán cho một doanh nghiệp trên địa bàn. không tính ra, cô còn lấy thêm các tài liệu để khiến cho thuê kế toán thuế hàng tháng cho một vài công ty khác. Công việc tối ngày làm cô chưa thỏa mãn nên N. làm thêm cả marketing sản phẩm của doanh nghiệp trên mạng để lấy doanh số.
Hết tháng, N. lại lao đầu như con thiêu thân vào mớ giấy tờ. với hôm thấy con làm tới 2, 3 h sáng bố mẹ N. khuyên con ko cần khiến cho quá sức. Nhưng cô cứ vùi đầu vào công việc. gần đây, lúc đi họp kỷ niệm ngày 50 năm ra đời trường, N. về nhà trong vẻ mặt thất thần. Cô bảo có mẹ “từ nay con ko làm rộng rãi nữa, con chăm sóc bản thân để lấy chồng. Bạn bè ai cũng chê con già mà chưa có ai ngó ngàng đến”.
Một bệnh nhân nữ điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần trung ương1 bệnh nhân nữ điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần trung ương
Nghe con trút bầu tâm sự như thế, mẹ N. vui lắm vì từ nay bà bớt lo hơn về quả bom nổ chậm trong nhà. Bà khuyên con buộc phải từ từ lựa chọn việc chồng con. Tuy nhiên, niềm vui người yêu đâu chưa thấy, bà lại nhìn con chìm trong công việc.
Đi về tới nhà chị N. lại vùi đầu trong phòng. nếu bố mẹ không biết sơ ý khiến phiền là cô mắng mỏ. Từ trước đến nay, N. chưa bao giờ cáu gắt như thế cả. Bố mẹ N. khẳng định cô vô cùng ngoan phải khi bị mắng mỏ, cáu gắt, bố mẹ cô rất ngạc nhiên.
Phát điên vì công việc
ko chỉ giới hạn lại ở mắng mỏ mỗi khi bị khiến cho phiền, N. còn thường xuyên khóc lóc và ném đồ đạc. Mẹ cô tiếp lời: “Từ trước đến nay nó làm việc rất kỹ càng. làm cho thêm kế toán thuế cho mấy nơi nhưng chưa ở đâu sở hữu sai sót nào. Họ rất an tâm về chuyên môn của nó lắm. không hiểu bệnh tật hay áp lực gì mà sinh ra như thế. Tôi gọi điện cho anh trai nó nhắc lại sự việc, anh nó bắt buộc cho ngay ra không tính Hà Nội điều trị”.
Ánh mắt của N. thất thần, vô hồn. Miệng cô liên tục nói: “Con khiến cho mất thẻ ATM rồi. Con mất hết tiền rồi”. Nghe thế, mẹ cô lại quay đi khóc. Ngày trước, trong số 4 người con bà yên tâm nhất là N. vì cô cực kỳ kỹ càng, làm cho việc bài bản. Vậy mà giờ cô bị như thế này. “Không biết sau này nó khỏi bệnh thần trí còn như trước ko. Nó còn cả tương lai ở trước nữa” – bà mẹ đau khổ nhắc.
Theo Bác sĩ Chuyên khoa 2, Nguyễn Văn Dũng, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, nếu của chị N. cũng không phải hiểm. hiện nay, số bệnh nhân bị stress vì công việc quá đa dạng nhưng người nhà chủ quan xem nhẹ.
Ngay cả chính bệnh nhân cũng xem thường stress dẫn tới rối loạn cảm xúc. 1 người bị bệnh tâm thần hai ngày với thể điều trị cả tháng, thậm chí vài tháng mới khỏi.
Rối loạn cảm xúc với rộng rãi dạng như ví như của chị N. lúc vào viện chị vừa khóc, vừa cười và liên tục khoe các chiến tích về công việc của mình. những bác sĩ đã cho chị sử dụng thuốc đặc trị trầm cảm. Bệnh của chị có thuyên giảm nhưng để chữa khỏi chị trở về công việc như xưa chưa khẳng định trước được. đến nay, bệnh rối loạn cảm xúc là 1 dạng tâm thần đang ngày càng trẻ hóa ở độ tuổi tuổi teen.
Dịch vụ làm báo cáo tài chính cuối năm

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Chi phí phải trả và dự phòng phải trả phân biệt như thế nào ?

Thuật ngữ khoản dự phòng buộc phải trả và mức giá cần trả khiến đa dạng bạn lúc bắt đầu học kế toánbị lầm lẫn, bởi vậy, website kế toán xin giới thiệu với người dùng bài viết này nhằm giúp người mua phân biệt giữa hai khái niệm này.

Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC tại Điều 54 quy định về giá tiền bắt buộc trả và Điều 62 quy định về dự phòng phải trả như sau:
1. Đối có khoản mức giá nên trả
  • Là nghĩa vụ nợ hiện nay kiên cố về thời gian bắt buộc thanh toán;
  • Xác định được chắc chắn số tiền sẽ nên trả;
  • các khoản bắt buộc trả cho hàng hóa, dịch vụ đã nhận được từ người bán hoặc đã cung ứng cho quý khách trong kỳ báo cáo nhưng thực tế chưa chi trả do chưa sở hữu hóa đơn hoặc chưa đủ hồ sơ, tài liệu kế toán, được ghi nhận vào tầm giá sản xuất, marketing của kỳ báo cáo.
  • Trên Báo cáo tài chính, giá thành nên trả là một phần của các khoản buộc phải trả thương mại hoặc cần trả khác.
  • những khoản giá thành buộc phải trả thường là các khoản giá tiền như:
    • những khoản bắt buộc trả cho người lao động trong kỳ như phải trả về tiền lương nghỉ phép.
    • giá thành trong thời gian doanh nghiệp giới hạn cung cấp theo mùa, vụ sở hữu thể xây dựng được kế hoạch dừng cung cấp.
    • Trích trước giá tiền lãi tiền vay nên trả trong trường hợp vay trả lãi sau, lãi trái phiếu trả sau (khi trái phiếu đáo hạn).
    • Trích trước tầm giá để tạm tính giá vốn hàng hóa, thành phẩm bất động sản đã bán…..
Chi phí phải trả và dự phòng phải trả phân biệt như thế nào ?mức giá bắt buộc trả và dự phòng buộc phải trả phân biệt như thế nào ?
2. Đối với khoản dự phòng bắt buộc trả
  • Là nghĩa vụ nợ hiện tại nhưng thường chưa xác định được thời gian thanh toán cụ thể.
  • những khoản dự phòng phải trả thường được ước tính và mang thể chưa xác định được kiên cố số sẽ phải trả (ví dụ khoản mức giá dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng);
  • những khoản cần trả chưa phát sinh do chưa nhận hàng hóa, dịch vụ nhưng được tính trước vào mức giá chế tạo, buôn bán kỳ này để chất lượng khi phát sinh thực tế không gây đột biến cho tầm giá chế tạo, kinh doanh được phản ánh là dự phòng phải trả.
  • Trên Báo cáo tài chính, những khoản dự phòng nên trả được trình bày tách biệt với những khoản buộc phải trả thương mại và phải trả khác.
* các khoản trích trước ko được phản ánh vào tài khoản 335 mà được phản ánh là dự phòng cần trả như:
  • giá tiền sửa chữa to của các TSCĐ đặc thù do việc sửa chữa lớn có tính chu kỳ, công ty được phép trích trước giá thành sửa chữa cho năm kế hoạch hoặc một số năm tiếp theo; trước ấy theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC thì tầm giá sửa chữa lớn TSCĐ thì được ghi nhận vào tài khoản 335.
  • Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình làm, tái cơ cấu công ty.
  • những khoản dự phòng nên trả khác bao gồm cả khoản dự phòng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật, khoản dự phòng bắt buộc trả đối sở hữu hợp đồng có rủi ro to mà trong ấy các mức giá bắt bắt buộc trả cho các nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng vượt quá những tiện lợi kinh tế dự tính thu được từ hợp đồng ấy.
  • Dịch vụ kế toán trọn gói

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Cài đặt phần mềm HTKK trên ổ đĩa khác

Mỗi khi máy tính trục trặc (windows bị hỏng) ta cần cài đặt lại máy. lúc buộc phải cài đặt máy thì vô cùng hay xảy ra tình trạng là những gì lưu trên ổ đĩa cài Windows (thường là ổ C:\) sẽ bị mất hết. Phần mềm HTKK được mặc định cài đặt tại C:\Program Files\HTKK300 và dữ liệu cùng cất trong thư mục cài đặt cũng sẽ “cùng chung số phận”.
do vậy trường hợp ta không sao lưu dữ liệu phần mềm HTKK thường xuyên thì khi đó ta sẽ bị mất hết dữ liệu của phần mềm HTKK. Trong bài viết mình sẽ bày cho người dùng 1 mẹo nhỏ để cài đặt phần mềm HTKK trên ổ đĩa khác.

Hướng dẫn cài đặt phần mềm HTKK trên ổ đĩa khác

một. các bước đầu tiến hành cài đặt phần mềm HTKK, ta sẽ đi qua bước phần mềm cài đặt mở màn hình để ta tìm đường dẫn. Trong màn hình đó đường dẫn đang ở chế đố mặc định là C:\Program Files\HTKK300
chọn ổ đĩa cài đặt phần mềm HTKK
2. Bình thường ta sẽ bấm “Tiep tuc” để tiến hành cài đặt. Ở đây ta sẽ bấm vào nút “Chon“. Phần mềm sẽ mở tiếp màn hình cho ta tìm thư mục muốn cài phần mềm HTKK. Ta với thể tìm thư mục được tạo sẳn trong cây thư mục hoặc đánh trực tiếp vào cái “Path“. Ở đây mình sẽ đánh đường dẫn trực tiếp là D:\HTKK315 để cài phần mềm HTKK lên ổ đĩa D:\
đường dẫn cài đặt phần mềm HTKK
3. Sau ta bấm “OK” để quay trở lại màn hình chọn đường dẫn và bấm “Tiep tuc” để tiến hành cài đặt. các bước tiếp theo sẽ tiến hành như quy trình cài đặt bình thường.
Sau khi cài đặt xong, Phần mềm HTKK hiện tại sẽ chạy từ ổ đĩa D:\ và ta ko lo mất dữ liệu lúc bắt buộc cài đặt lại Windows.
Tuy nhiên, để đề phòng giả dụ hưa cả ổ cứng hoặc virus “ăn” chúng ta vẫn bắt buộc sao lưu dữ liệu cho phần mềm HTKK. Xin mời người mua xem bài sao lưu dữ liệu phần mềm HTKK sẽ hướng dẫn phương pháp sao lưu và phục hồi dữ liệu cho phần mềm HTKK.
Hy vọng mẹo nhỏ này giúp ích cho các bạn.
Dịch vụ báo cáo tài chính cuối năm

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Định nghĩa cơ sở thường trú

Định nghĩa cơ sở thường trú dưới đây được trích từ Thông tư 205/2013/TT-BTC. Thông tư này hướng dẫn các nội dung cơ bản của những Hiệp định giảm thiểu đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các dòng thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với những nước và vùng lãnh thổ (dưới đây gọi chung là Nước ký kết hoặc nước tùy theo ngữ cảnh) sở hữu hiệu lực thi hành tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Hiệp định).
Dịch vụ làm báo cáo thuế
1. Theo quy định tại Hiệp định, “cơ sở thường trú” là 1 cơ sở kinh doanh cố định của một công ty, thông qua đấy, công ty thực hiện mọi hay 1 phần hoạt động kinh doanh của mình.
1 công ty của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu hội đủ ba điều kiện dưới đây:
a) Duy trì tại Việt Nam 1 “cơ sở” như 1 tòa nhà, 1 văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng ấy, 1 phương tiện hoặc trang bị,…; và
b) Cơ sở này với tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại 1 địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ sở marketing không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn ngay lập tức mang 1 vị trí địa lý cụ thể trong 1 độ dài thời gian nhất định; và
c) doanh nghiệp tiến hành tất cả hoặc 1 phần hoạt động buôn bán thông qua cơ sở này.
Ví dụ 8: doanh nghiệp X của Trung Quốc mở một gian hàng tại 1 khu chợ tết của Việt Nam, thông qua gian hàng này doanh nghiệp X bán các hàng hóa tại hội chợ. khi đấy, gian hàng này sẽ được coi là cơ sở thường trú của công ty X tại Việt Nam.
2. một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là tiến hành hoạt động marketing thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam trong những nếu chủ yếu sau đây:
a) công ty đó với tại Việt Nam: trụ sở điều hành, chi nhánh (như chi nhánh doanh nghiệp luật, chi nhánh văn phòng nước ko kể, chi nhánh các doanh nghiệp thuốc lá, chi nhánh ngân hàng,…), văn phòng (kể cả văn phòng đại diện thương mại trường hợp với thương lượng, ký hài hòa đồng thương mại), nhà máy, xưởng cung cấp, mỏ, giếng dầu hoặc khí, kho giao nhận hàng hoá, địa điểm điều tra hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên, hoặc có các thứ, phương tiện phục vụ cho việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam.
Ví dụ 9: một nhà thầu phụ nước bên cạnh dùng phương tiện, đồ vật và nhân công tham gia vào hoạt động khoan thăm dò dầu khí tại Việt Nam sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua 1 cơ sở thường trú tại Việt Nam.
b) doanh nghiệp đấy với tại Việt Nam 1 địa điểm thiết kế, 1 công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp, hoặc tiến hành những hoạt động giám sát liên quan đến các địa điểm thiết kế, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nói trên mang điều kiện những địa điểm, công trình hoặc những hoạt động giám sát ấy kéo dài hơn 6 tháng hoặc 3 tháng (tùy theo từng Hiệp định cụ thể) tại Việt Nam.
Địa điểm, công trình xây dựng hoặc lắp đặt bao gồm địa điểm, công trình xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống, lắp đặt đường ống, khai quật, nạo vét sông ngòi,… Thời gian (6 tháng hoặc 3 tháng) được tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị cho công trình xây dựng tại Việt Nam, như thành lập văn phòng làm kế hoạch thi công, cho tới khi công trình hoàn thiện, bàn giao mọi tại Việt Nam, kể cả thời gian công trình bị gián đoạn do toàn bộ nguyên nhân.
những nhà thầu phụ của Nước ký kết tham gia vào các công trình thiết kế, lắp đặt hoặc lắp ráp nêu trên cũng được coi là tiến hành hoạt động buôn bán tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú trường hợp hội đủ những điều kiện tại Điểm 1.2.1 nêu trên.
Thời gian thực hiện công trình để xác định cơ sở thường trú cho nhà thầu chính bao gồm tổng cùng thời gian thực hiện các phần hợp đồng của các nhà thầu phụ và thời gian thực hiện của nhà thầu chính.
Ví dụ 10: công ty Z của Nhật Bản trúng thầu làm một chiếc cầu tại Việt Nam. Hoạt động thi công cầu diễn ra như sau: 5 tháng thi công làm trụ cầu do một nhà thầu phụ Y cũng là 1 doanh nghiệp Nhật Bản đảm nhiệm và 3 tháng thi công sàn cầu và hoàn thiện do nhà thầu Z tự thực hiện. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 5, Khoản 3, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, doanh nghiệp Z được coi là tiến hành hoạt động buôn bán tại Việt Nam thông qua 1 cơ sở thường trú vì tổng thời gian thi công cầu là 8 tháng (5 tháng + 3 tháng); doanh nghiệp Y ko được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
c) công ty đấy thực hiện việc sản xuất dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của công ty hoặc 1 đối tượng khác sở hữu điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc những dự án sở hữu liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay phổ biến khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi công đoạn 12 tháng.
Ví dụ 11: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng máy bay có hãng Hàng không Việt Nam. Theo hợp đồng, trong giai đoạn từ ngày 01/6/2010 đến ngày 30/5/2011, hãng Đ đã cử các đoàn chuyên gia công nghệ sang Việt Nam làm việc với tổng số thời gian với mặt tại Việt Nam 190 ngày. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là mang cơ sở thường trú tại Việt Nam do những đoàn chuyên gia khoa học đã khiến cho việc tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong quá trình 12 tháng.
Ví dụ 12: công ty tư vấn N của Nhật Bản ký các hợp đồng dịch vụ tư vấn mang chủ đầu tư của Dự án làm Nhà máy điện V tại Việt Nam như sau: i) hợp đồng dịch vụ tư vấn xây dựng nhà máy điện kéo dài 4 tháng từ ngày 01/8/2010 đến ngày 30/11/2010, và ii) hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt hệ thống máy phát điện kéo dài 3 tháng từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/3/2011. Cả hai hợp đồng đều yêu cầu sự hiện diện của đại diện doanh nghiệp tư vấn N tại hiện trường thiết kế và lắp đặt Nhà máy điện V để triển khai công việc trong suốt thời hạn hợp đồng. Để thực hiện hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt nhà máy điện, doanh nghiệp tư vấn N đã thuê 1 doanh nghiệp tư vấn B của Nhật Bản thực hiện mang tư bí quyết đại diện cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, công ty tư vấn N được coi là mang cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện doanh nghiệp tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng; công ty tư vấn B không được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của công ty tại Việt Nam không quá 6 tháng.
Ví dụ 13: với các nhái định như Ví dụ 12, giả dụ công ty tư vấn B và chủ đầu tư của Dự án còn ký một hiệp định tư vấn trong giai đoạn chạy thử từ ngày 01/4/2011 đến ngày 30/7/2011. Hợp đồng cũng yêu cầu đại diện của công ty tư vấn B hiện diện trong suốt thời hạn hợp đồng tại hiện trường chạy thử Nhà máy điện V. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, doanh nghiệp tư vấn B được coi là mang cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện doanh nghiệp tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng.
Liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, mặc dù tại Hiệp định có quy định cơ sở thường trú bao gồm việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của công ty hoặc 1 đối tượng khác có điều kiện các hoạt động dịch vụ đề cập trên trong một dự án hoặc những dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay đa dạng khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi quá trình 12 tháng, nhưng do tính chất của dịch vụ, thời gian cung ứng dịch vụ ko kéo dài quá 6 tháng trong 1 quá trình 12 tháng, trong lúc ấy, ba điều kiện về cơ sở thường trú tại Điểm một.2.1 nêu trên vẫn thỏa mãn thì việc chế tạo dịch vụ vẫn được coi là sở hữu một cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Ví dụ 14: Hãng cung cấp máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng định kỳ máy bay mang hãng Hàng không Việt Nam trong thời gian hai năm. Theo hợp đồng, hàng năm, Hãng Đ đều cử những đoàn chuyên gia khoa học sang Việt Nam khiến việc với tổng số thời gian có mặt tại Việt Nam 90 ngày tại địa điểm bảo dưỡng máy bay. Trong giả dụ này, theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là với cơ sở thường trú tại Việt Nam do định kỳ hàng năm những đoàn chuyên gia kỹ thuật đã khiến việc tại Việt Nam tại 1 địa điểm cố định tại Việt Nam (các máy bay được bảo dưỡng).
d) doanh nghiệp đấy với tại Việt Nam 1 đại lý môi giới, đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ 1 đại lý nào khác, trường hợp các đại lý đó dành tất cả hoặc hầu hết hoạt động của mình cho công ty ấy (đại lý phụ thuộc).
Ví dụ 15: doanh nghiệp V là đối tượng cư trú của Việt Nam ký hợp đồng đại lý có chức năng lưu kho và giao sản phẩm sơn cho 1 công ty H là đối tượng cư trú của Anh. Theo quy định tại hợp đồng, công ty V không được phép làm cho đại lý cho bất cứ một nhà cung cấp hoặc chế tạo sơn nào khác. trường hợp này, mặc dù không sở hữu chức năng ký hài hòa đồng hoặc thu tiền tại Việt Nam nhưng công ty V đã trở thành đại lý phụ thuộc của doanh nghiệp H, ko còn là đại lý độc lập nữa. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Anh (Khoản 6, Điều 5: Cơ sở thường trú) doanh nghiệp H được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
đ) doanh nghiệp đấy uỷ quyền cho 1 đối tượng tại Việt Nam:
– Thẩm quyền thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên công ty đó; hoặc ký những hợp đồng sở hữu tên đối tượng đó nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của công ty đó; hoặc
– không với thẩm quyền thương lượng, ký hài hòa đồng, nhưng mang quyền thường xuyên đại diện cho doanh nghiệp đấy giao hàng hóa tại Việt Nam.
3. một công ty nước bên cạnh sẽ được coi là không với cơ sở thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
a) công ty đấy sử dụng các phương tiện chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hàng hóa của công ty.
b) doanh nghiệp đấy có tại Việt Nam một kho hàng hóa chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hoặc để cho 1 doanh nghiệp khác gia công.
c) doanh nghiệp đấy mang tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích sắm hàng hóa hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp.
d) doanh nghiệp đó có tại Việt Nam 1 cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích tiến hành các hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ cho công ty.
4. nếu một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam, hoặc đang tiến hành hoạt động buôn bán tại Việt Nam (có thể thông qua cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác) sẽ không làm cho bất kỳ doanh nghiệp nào vươn lên là cơ sở thường trú của công ty kia.
Ví dụ 16: 1 doanh nghiệp nước ngoại trừ góp vốn có mặt trên thị trường một công ty liên doanh hoặc một công ty 100% vốn nước không tính tại Việt Nam. lúc đó, công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước bên cạnh này ko được coi là các cơ sở thường trú tại Việt Nam của công ty nước bên cạnh đấy.
Tuy nhiên, trường hợp công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định có Việt Nam góp vốn thành lập 1 doanh nghiệp liên doanh hoặc 1 công ty 100% vốn nước ko kể tại Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp chế xuất) thì doanh nghiệp ấy sẽ được coi như sở hữu một cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu:
– doanh nghiệp liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước bên cạnh thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp đó; hoặc ký những hợp đồng đứng tên công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ko kể nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của công ty nước ngoài; hoặc
– doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước bên cạnh thường xuyên đại diện cho công ty nước ngoài giao hàng hóa tại Việt Nam; hoặc
Làm báo cáo tài chính
– doanh nghiệp nước không tính đó với quyền định đoạt đối mang cơ sở vật chất – công nghệ của công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ngoại trừ đó trong công đoạn sản xuất buôn bán (nghĩa là, việc công ty nước ngoại trừ sử dụng những cơ sở vật chất – kỹ thuật của công ty liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (nếu có) trong quá trình phân phối marketing chẳng phải trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường).

Công văng 336/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2013

Ngày 24 tháng 01 năm 2014 Tổng cục thuế đã ban hành Công văng số 336/TCT-TNCN về việc hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN)năm 2013.


BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
--------
cộng HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 336/TCT-TNCN
V/v hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 201 3 
Hà Nội, ngày 24 tháng 01 năm 2014

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Việc quyết toán thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2013 thực hiện theo những văn bản dưới đây:
- Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân; Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ; Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ; Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính; Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính; Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính; Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/8/2011 của Bộ Tài chính; Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính; Thông tư số 176/2009/TT-BTC ngày 09/9/2009 của Bộ Tài chính và những văn bản hướng dẫn;
- Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ; Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ; Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ; Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính và những văn bản hướng dẫn.
Để đảm bảo thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật, Tổng cục Thuế quan tâm 1 số nội dung về quyết toán thuế TNCN năm 2013 như sau:

I. những nếu KHAI QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN
một. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN ko phân biệt với phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế sở hữu trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thuế thay cho cá nhân có ủy quyền. giả dụ tổ chức, cá nhân ko phát sinh trả thu nhập trong năm 2013 thì chẳng hề khai quyết toán thuế TNCN.
2. Tổ chức trả thu nhập chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể hoặc phá sản theo quy định của Luật công ty thì bắt buộc quyết toán thuế đối sở hữu số thuế TNCN đã khấu trừ chậm nhất là ngày đồ vật 45 nhắc từ ngày có quyết định về việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, hoặc phá sản và cấp chứng từ khấu trừ thuế cho người lao động để làm cơ sở cho người lao động thực hiện quyết toán thuế TNCN.
giả dụ sau khi tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi), người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ tới tổ chức mới (tổ chức được hình thành sau khi tổ chức lại doanh nghiệp), cuối năm người lao động mang ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức mới bắt buộc thu lại chứng từ khấu trừ thuế TNCN do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động để khiến căn cứ tổng hợp thu nhập, số thuế đã khấu trừ và quyết toán thuế thay cho người lao động.
3. Cá nhân cư trú sở hữu thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ hoạt động đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp, đại lý xổ số thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo hướng dẫn tại điểm c; điểm e, khoản 2, Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Riêng ví như cá nhân cư trú là người nước bên cạnh kết thúc làm cho việc tại Việt Nam, đã thực hiện quyết toán thuế trước ngày 31/12, sau đấy cá nhân quay lại Việt Nam và làm việc đến hết năm đó thì cuối năm cá nhân thực hiện quyết toán thuế có thu nhập chịu thuế từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 và được trừ số thuế TNCN đã nộp tại nước bên cạnh nhưng ko vượt quá số thuế bắt buộc nộp tính theo Biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài.
4. Cá nhân cư trú mang thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, cuối năm trường hợp sở hữu bắt buộc áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế thì thực hiện khai quyết toán thuế trực tiếp sở hữu cơ quan thuế. giả dụ cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần mà không mang yêu cầu xác định lại số thuế TNCN theo thuế suất 20% thì không phải quyết toán thuế.
5. Điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên” để xác định cá nhân cư trú có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/7/2013. Trước ngày 01/7/2013, điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam” để xác định cá nhân cư trú là 90 ngày. Việc xác định số ngày mang nhà thuê để ở căn cứ trên các hợp đồng thuê, nói cả hợp đồng thuê ký trước ngày 01/7/2013. nếu cá nhân thuộc diện quyết toán thuế thì khi quyết toán thuế điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam” để xác định cá nhân cư trú của năm 2013 là 183 ngày.

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Công văn 4175/BHXH-PC Hướng dẫn lập tờ khai tham gia BHXH, BHYT, BHTN (phần 2)

Mục II. Tham gia BHXH tự nguyện
[19]. Mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện: ghi thu nhập tháng khiến căn cứ đóng BHXH tự nguyện (theo hướng dẫn của cơ quan BHXH hoặc đại lý thu BHXH, BHYT).
[20]. Phương thức đóng: ghi dấu (x) và các ô tương ứng để lựa tìm phương thức đóng BHXH tự nguyện hằng tháng, hằng quý hay 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần.
Mục III. Tham gia BHYT
[21]. Tham gia bảo hiểm y tế theo đối tượng: Ghi rõ chiếc đối tượng tham gia như: người mang công, bảo trợ xã hội, hưu trí ...
[22]. Tiền lương hoặc mức lương cơ sở: Ghi lương hưu, trợ cấp thất nghiệp hoặc lương cơ sở.
[23]. Phương thức đóng: ghi dấu (x) và các ô tương ứng để lựa chọn phương thức đóng BHYT hằng quý hay 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần.
Ghi rõ cam đoan của người tham gia kê khai.

2. Tờ khai thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT (Mẫu số TK02-TS)
a. Mục đích: để kê khai bổ sung thông tin hoặc thay đổi thông tin của người tham gia BHXH, BHYT.
b. Trách nhiệm lập: người lao động cộng tham gia BHXH, BHYT, người chỉ tham gia BHXH hoặc người chỉ tham gia BHYT lúc bổ sung hoặc thay đổi thông tin hoặc thay đổi chiếc hình tham gia.
c. Thời gian lập: khi mang thay đổi, bổ sung thông tin hoặc thay đổi cái hình tham gia.
d. Căn cứ lập:
- Chứng minh thư, sổ hộ khẩu hoặc giấy khai sinh, hộ chiếu.
- Hồ sơ gốc: lý lịch, Hợp đồng lao động (HĐLĐ), Hợp đồng khiến cho việc (HĐLV) những Quyết định tuyển dụng, tiếp nhận và những giấy tờ chứng minh quyền lợi hưởng BHYT...
e. cách lập: thực hiện theo hướng dẫn loại số TK01-TS.
Thông tin cần người tham gia nên khai báo: [01]. Họ và tên (viết chữ in hoa); [03]. Ngày tháng năm sinh; [04]. Giới tính; [06]. Quốc tịch; [07]. Thân nhân; [08]. Số chứng minh thư (Hộ chiếu); [09]. liên hệ đăng ký hộ khẩu; [10]. shop địa chỉ (nơi sinh sống). IV. Hồ sơ gửi kèm để chứng minh.

3. Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT (Mẫu số D02-TS)
a. Mục đích: để đơn vị kê khai lao động, tiền lương tham gia BHXH, BHYT, BHTN; điều chỉnh mức đóng BHXH, BHYT, BHTN và đăng ký cấp số BHXH, thẻ BHYT đối mang người lao động thuộc đơn vị.
b. Trách nhiệm lập: đơn vị sử dụng lao động.
c. Thời gian lập: khi có phát sinh.
d. Căn cứ lập:
- Tờ khai tham gia BHXH, BHYT, BHTN; HĐLĐ, HĐLV, Quyết định tuyển dụng, tiếp nhận, Quyết định nâng lương, thuyên chuyển và những hồ sơ khác có liên quan.
e. phương pháp lập:
Ghi lao động tăng hay giảm và điều chỉnh về lao động hay mức đóng vào từng mục tương ứng, cụ thể:
* Chỉ tiêu hàng ngang:
- Ghi rõ tên đơn vị.
- Số định danh.
- Địa chỉ: ghi gần như địa chỉ: số nhà, đường phố, thôn xóm, xã, phường, thị trấn, quận, huyện, tỉnh, thành phố nơi đơn vị đặt trụ sở.
* Chỉ tiêu theo cột:
- Cột A: ghi số trang bị tự từ nhỏ đến to theo từng mục.
- Cột B: ghi rõ họ, tên của từng người lao động và ghi tương ứng vào từng mục tăng lao động, nâng cao mức đóng hoặc giảm lao động, giảm mức đóng. Trong từng mục lại ghi theo đồ vật tự: người với số định danh ghi trước; người chưa có số định danh ghi sau.
- Cột một ghi số định danh (số sổ BHXH) đối có người đã sở hữu sổ BHXH; người chưa mang sổ BHXH hoặc chưa mang số định danh thì để trống.
- Cột 2: ghi toàn bộ, yếu tố về cấp bậc, chức vụ, chức danh nghề, công việc, điều kiện nơi khiến việc theo quyết định hoặc HĐLĐ, HĐLV.
- Cột 3: ghi tiền lương của người lao động (bao gồm cả hệ số chênh lệch bảo lưu trường hợp có).
- Cột 4: ghi phụ cấp chức vụ mới (nếu có).
- Cột 5: ghi phụ cấp thâm niên vượt khung mới (nếu có).
- Cột 6: ghi phụ cấp thâm niên nghề mới (nếu có).
- Cột 7: ghi phụ cấp khác (nếu có).
- Cột 8: ghi từ tháng, năm người lao động nâng cao, giảm hoặc thay đổi mức đóng.
- Cột 9: ghi chú.
* Chỉ tiêu hàng ngang:
- Tăng: ghi theo thiết bị tự lao động nâng cao mới; lao động điều chỉnh tăng mức đóng trong đơn vị.
- Giảm: ghi theo vật dụng tự lao động giảm do chuyển đi, nghỉ hưởng chế độ BHXH...; lao động điều chỉnh giảm mức đóng trong đơn vị.
Lưu ý:
+ Đơn vị kê khai toàn bộ, chính xác tiền lương, tiền công và những khoản phụ cấp đóng BHXH, BHYT, BHTN ghi trong Quyết định hoặc HĐLĐ, HĐLV của từng người lao động.
+ Người lao động thuộc đối tượng hưởng lương theo thang bảng lương do Nhà nước quy định thì ghi tiền lương và phụ cấp chức vụ bằng hệ số; phụ cấp thâm niên vượt khung, thâm niên nghề ghi bằng tỷ lệ phần trăm (%) vào cột tương ứng, trường hợp ko hưởng phụ cấp nào thì bỏ trống.
+ Người lao động thuộc đối tượng hưởng lương do người tiêu dùng lao động quy định thì ghi số tiền lương cụ thể. giả dụ trên HĐLĐ, HĐLV của người lao động ghi tiền lương hệ số hoặc tiền lương với gốc ngoại tệ thì nên quy đổi, ghi bằng tiền (VNĐ) theo quy định.
+ Đối sở hữu giả dụ truy đóng BHXH, BHYT, BHTN để cùng nối thời gian công tác hoặc điều chỉnh tiền lương thời gian từ tháng đến tháng (cột 8), cột số 9-ghi chú tương ứng thời gian truy thu hoặc điều chỉnh. trường hợp với đa dạng mốc thời gian khác nhau thì từng mẫu theo từng mốc thời gian tương ứng như trên.
+ ví như trong tháng đơn vị lập đa dạng danh sách lao động đóng BHXH, BHYT thì đánh số những danh sách.

4. Danh sách người tham gia BHYT (Mẫu số D03-TS).
a. Mục đích: kê khai các thông tin của người chỉ tham gia BHYT để thu, cấp thẻ BHYT theo quy định.
b. Trách nhiệm lập: UBND xã, phường, thị trấn hoặc đại lý thu lập cho người tham gia theo từng nhóm đối tượng, tham gia tại đại lý. Đại lý thu tính toán mức đóng, giảm mức đóng,...; thu tiền đóng của người tham gia BHYT nộp cho cơ quan BHXH để cấp thẻ BHYT.
c. Thời gian lập: lập khi đơn vị bắt đầu tham gia đóng BHYT và lúc mang biến động (tăng, giảm) về người tham gia, số tiền đóng BHYT.
d. phương pháp lập:
- Ghi rõ tên đơn vị tại thời điểm đăng ký.
- Ghi số định danh lúc được cơ quan BHXH cấp.
- Đối tượng tham gia: ghi mẫu đối tượng tham gia BHYT (người nghèo, người mang công, trẻ em dưới 6 tuổi,...).
- Tỷ lệ Ngân sách Nhà nước hỗ trợ: ghi tỷ lệ % ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ (bao gồm tỷ lệ theo quy định của Nhà nước, của địa phương và những nguồn khác) đối với một số loại đối tượng được quy định trong Luật BHYT.
* Chỉ tiêu theo cột:
- Cột A: ghi số thiết bị tự từ nhỏ đến to theo từng mục: đối tượng nâng cao, đối tượng giảm.
- Cột B: ghi họ, tên người tham gia BHYT.
- Cột 1: ghi số định danh (mã số thẻ BHYT) của người tham gia nêu đã được cơ quan BHXH cấp.
- Cột 2: ghi mức tiền làm căn cứ đóng BHYT của người tham gia.
- Cột 3: chỉ ghi đối mang các giả dụ tham gia theo hộ gia đình được giảm mức đóng (Ví dụ: 70%, 60%, 50%, 40%).
- Cột 4: ghi thời hạn dùng thẻ BHYT từ ngày.
- Cột 5: ghi số tiền đóng BHYT tương ứng với thời hạn dùng của thẻ BHYT.
- Cột 6: Ghi chú (nếu có)
* Chỉ tiêu theo hàng ngang:
- Tăng: ghi đồ vật tự người tham gia BHYT nâng cao.
- Giảm: ghi thứ tự người tham gia BHYT giảm.
- Điều chỉnh: ghi điều chỉnh.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More